5/5 - (1 bình chọn)

Đàn Tranh là một loại nhạc cụ dây gảy của Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, cây đàn tranh vẫn tồn tại và có nhiều phát triển vượt bậc đến ngày nay. Với tư cách là một trong những nhạc cụ sớm góp phần làm nên bộ mặt văn hóa, nghệ thuật riêng và độc đáo của Việt Nam, cây Đàn Tranh đã có sự gắn bó khăng khít, mật thiết với đời sống tâm hồn của nhân dân ta trải qua nhiều thế kỷ.

Nói về lịch sử đàn tranh, các nhà nghiên cứu âm nhạc Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay, hầu hết đều có chung nhận định: đàn tranh Việt Nam có nguồn gốc từ đàn Gu Zheng (cổ tranh) cổ Trung Hoa và được du nhập vào nước ta khoảng thế kỷ XIII, đời nhà Trần.

Là nhạc cụ gẩy 16 dây, ở miền Bắc thường gọi là Đàn Thập Lục. Ngày nay, trải qua quá trình cải tiến, phát triển, Đàn Tranh còn có các loại 17 dây, 19 dây, 21 dây. Đàn Tranh có phong cách diễn tấu thoải mái, mềm mại, sự sáng sủa, trong trẻo của âm sắc mang vẻ mảnh mai, thảnh thơi, nhiều chất trữ tình

🌳 CẤU TẠO

Cầu đàn: Là miếng gỗ nhô cao lên, cong ôm sát theo độ vòm của mặt đàn. Cầu đàn được đục 16 lỗ nhỏ thẳng hàng để luồn dây đàn qua và giúp cố định dây đàn không bị xô lệch quá nhiều khi được khẩy.

Ngựa đàn: dùng để gác dây và có thể di chuyển dọc theo mặt đàn để căng chỉnh cao độ của mỗi dây đàn ngay cả trong lúc đàn một cách dễ dàng.  Ngựa đàn thường làm bằng gỗ, nhựa hoặc xương, ngà,…

Dây đàn:

Dây đàn ngày xưa là loại dây làm bằng tơ. Ngày nay đa số làm bằng dây kim lại như đồng, sắt, inox,…

Trục đàn: dùng để căng dây hoặc làm trùng dây/thả dây để tạo các âm sắc khác nhau. Kết hợp cùng sự di chuyển của ngựa đàn/nhạn đàn tạo nên khả năng thiên biến vạn hóa cho đàn Tranh.

Móng gảy đàn: Móng gảy đàn được đeo ở các ngón tay 1, 2 và 3 bàn tay.

Âm sắc của Đàn Tranh trong trẻo, thanh thoát, có thể nhấn nhá rất mềm mại.

Ngoài khả năng diễn tấu giai điệu, ngón chơi truyền thống của đàn Tranh là những quãng tám rải hoặc chập và ngón đặc trưng nhất là vuốt trên các dây là ngón á. Đàn Tranh là nhạc khí dùng để độc tấu, hòa tấu, đệm cho hát, ngâm thơ và được chơi trong nhiều thể loại âm nhạc như dàn nhạc Tài tử, Cải lương, dàn nhạc Chèo, dàn Nhã nhạc, dàn nhạc dân tộc tổng hợp…

🏕 Lịch sử phát triển đàn tranh Việt Nam

Với tư thế về kiểu dáng gọn nhẹ, đặc biệt âm điệu giàu sức biểu cảm và khả năng diễn tấu phong phú, từ vị trí cây đàn “quý tộc” chốn cung đình xa hoa, dần dần đàn tranh càng hòa mình với đời sống của tầng lớp nhân dân lao động bình dân; bên cạnh các nhạc cụ dân tộc khác như: nhị, sáo, đàn bầu… Trải qua hằng trăm năm phát triển, chịu ảnh hưởng của nền âm nhạc thế giới, đàn tranh Việt Nam có các loại đàn tranh: đàn tranh 15 dây, đàn tranh 16 dây, đàn tranh Việt Nam 17 dây và đàn tranh Việt Nam loại 19 dây.

Đàn tranh 15 dây hình thành từ bao giờ?

Đàn tranh được hình thành từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 14. Thời Lý, Trần đàn tranh chỉ có 15 dây. Chính vì thế, đàn tranh lúc bấy giờ còn có tên goi khác là thập lý huyền cầm; và được dùng trong ban đồng văn nhã nhạc đời Lê Thánh Tông (thế kỷ 15). Sau này, đàn tranh được dùng trong cả ban nhạc giáo phường. Tới thời Nguyễn (thế kỷ 19) được dùng trong ban nhạc Huyền. Lúc bấy giờ, đàn tranh được sử dụng với 16 dây, nên được gọi là thập lục huyền cầm.

Đàn tranh 16 dây cấu tạo như nào?

Hình dáng đàn thập lục huyền cầm dài, có 16 dây bằng kim loại, mặt đàn nhô lên hình vòng cung, từ trục đàn đến chỗ gắn dây đàn. Khoảng giữa của mỗi dây đều có một con nhạn, gọi là nhạn đàn. Để tăng âm từ nửa cung lên một cung thì đàn cần chuyển đổi dây.

Sau này, đàn tranh rất phổ biến, được đứng thứ 3 trong bộ tam huyền của dàn nhạc tài tử. Vì đàn tranh được thiết kế theo thể thức nhiều dây nên khi tấu nhạc đàn phát ra âm thanh đanh tiếng, khi tấu chữ đàn thường là song thanh. Chính vì thế, khi hết một câu, một đoạn nhạc nào đó, đàn thường lặp lại một nốt.

Ngoài khả năng diễn tấu giai điệu, ngón chơi truyền thống của đàn là những quãng tám dài hoặc chậm, ngón đặc trưng nhất là vuốt trên các dây.

Đàn tranh là nhạc khí dùng hòa tấu, độc tấu, đêm cho hát, ngâm thơ, đàn tranh cũng để chơi cho nhiều loại nhạc như dàn nhạc tài tử, nhã nhạc, nhạc chèo, nhạc dân tộc tổng hợp,…

Cho tới ngày nay, đàn tranh không chỉ dừng lại ở 15 đây mà được phát triển thành đàn tranh 17 dây, đàn tranh 19 dây và đàn tranh 21 dây để đáp ứng được hình thức diễn tấu. Đàn tranh càng nhiều dây thì quãng bass, quãng trầm càng rộng. Đàn càng to, âm càng vang và trầm, ấm, ngân dài và lâu

Xem thêm bài viết liên quan

Gia sư Đàn Tranh

ĐÀN TRANH VIỆT NAM